Hiển thị các bài đăng có nhãn quy hoạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quy hoạch. Hiển thị tất cả bài đăng

1 tháng 6, 2012

Bình Dương: Quy hoạch chồng chéo, chủ đầu tư gặp khó


Được giao thực hiện quy hoạch Cụm công nghiệp và khu dân cư (CCN và KDC) Tân Bình (thuộc phường Tân Bình, TX.Dĩ An), tuy nhiên Công ty Cổ phần Trung Thành lại không thể thực hiện trọn vẹn được quy hoạch.

Cần quy hoạch lại các khu công nghiệp


Tỉ lệ lấp đầy bình quân của các khu công nghiệp hiện nay mới được 50%, cụm công nghiệp chỉ 26,4% do số lượng khu và cụm công nghiệp quá nhiều so với nhu cầu đầu tư.
>> Phát triển khu công nghiệp: Hiệu quả thì ít, hậu quả thì nhiều

Điều nan giải nhất của các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) trên cả nước là làm sao để thu hút nhà đầu tư, qua đó ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, với tình trạng quá dư thừa KCN, CCN như hiện nay, những vấn đề trên không dễ giải quyết.

Tỉ lệ lấp đầy quá thấp

TS Lê Tuyển Cử, Vụ Quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, tính toán: “Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân tính trên 1 ha đất đã cho thuê đạt khoảng 1,6 triệu USD/năm, trong khi đó, giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đạt khoảng 600 USD/ha/năm, tính riêng đất lúa khoảng 900 USD/ha/năm.

Cần quy hoạch lại các khu công nghiệp | ảnh 1
Ông Phạm Văn Danh (huyện Trần Đề - Sóc Trăng) nhiều năm thuê đất trong KCN An Nghiệp của tỉnh này để... trồng khoai lang. Ảnh: DUY NHÂN

Các KCN đóng góp đáng kể vào tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước (đạt tỉ trọng khoảng 20%/năm). Tính bình quân 1 ha đất công nghiệp đã cho thuê, riêng trong năm 2010, đã tạo ra giá trị xuất khẩu khoảng 0,9 triệu USD (so với giá trị xuất khẩu gạo tính trung bình khoảng 320 USD/ha).

Các KCN đã tạo việc làm cho hơn 1,6 triệu lao động trực tiếp (bình quân khoảng 75 lao động/ha đất đã cho thuê), ngoài ra còn tạo công ăn việc làm cho 1,5 - 1,8 triệu lao động gián tiếp (trong khi 1 ha đất nông nghiệp chỉ thu hút được 10 - 12 lao động)”.

Lý thuyết là vậy, còn thực tế thì khác. Một khi hầu hết các KCN, CCN đều thưa vắng như hiện nay thì không thể mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Hiện cả nước có 267 KCN, chiếm 72.000 ha đất, tỉ lệ lấp đầy không quá 50%. Theo quy hoạch đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cả nước sẽ có 558 KCN với diện tích 200.000 ha. Ngoài ra, tính đến cuối năm 2009, cả nước đã có 918 CCN đã được thành lập và hoạt động, sử dụng 40.000 ha đất, tỉ lệ lấp đầy chỉ 26,4%. Theo quy hoạch phát triển, có 1.872 CCN, sử dụng 76.520 ha đất.

Thẩm định kỹ, tăng chế tài

GS-TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường, nói rằng tỉ lệ lấp đầy thấp của các KCN là một điều đáng lo ngại. Trên thực tế, rất nhiều địa phương đã giao số lượng lớn diện tích đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp cho các doanh nghiệp đã làm cho các KCN thừa diện tích. Chỉ tiêu Quốc hội cho phép là 44.000 ha vào năm 2010, các địa phương đã giao tới 93.000 ha, vượt 211,36%. Tình trạng này cần phải quy hoạch lại và điều chỉnh kịp thời.

Theo ông Lê Quốc Dung, nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội khóa XII, bên cạnh yêu cầu điều chỉnh diện tích phù hợp giữa các vùng để hạn chế sử dụng đất lúa nước, cần nâng cao yêu cầu lựa chọn và thẩm định kỹ các dự án sử dụng đất theo hướng sử dụng ít diện tích đất nhưng mang lại hiệu quả về việc làm, thu nhập, thu ngân sách và hạn chế tác động môi trường nhất, tránh tình trạng cấp phép tràn lan, sử dụng đất kém hiệu quả. Thúc đẩy các dự án nhanh đưa vào sử dụng, khắc phục nhiều dự án để hoang hóa hoặc hiệu suất sử dụng thấp.

Về điều chỉnh quy hoạch KCN cả nước đến năm 2015 và hướng đến năm 2020, TS Lê Tuyển Cử đề xuất: “Phải hạn chế tối đa việc phát triển KCN trên đất trồng lúa có năng suất ổn định. Không xét duyệt các quy hoạch chuyển đất trồng lúa nước sang mục đích sử dụng phi nông nghiệp ở những địa phương có điều kiện sử dụng các loại đất khác.

Đồng thời, có chính sách phát triển các cơ sở đào tạo nghề gắn với nhu cầu phát triển KCN và nhu cầu chuyển đổi nghề cho những lao động nông nghiệp có đất được chuyển đổi sang sản xuất công nghiệp vừa nhằm đáp ứng nhu cầu lao động của doanh nghiệp vừa tạo đời sống ổn định cho người dân địa phương”.

Đừng mở tràn lan

TS Võ Hùng Dũng, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Chi nhánh Cần Thơ, nói: “KCN ở các tỉnh ĐBSCL, nơi nào cũng có chế biến thủy sản, dệt may…, không có KCN nào chuyên dụng cho một loại hàng. Do đó, các KCN kêu gọi đầu tư giống nhau, như vậy là lãng phí”. Ông Võ Thanh Hùng, Trưởng Ban Quản lý các KCX-KCN Cần Thơ, đề nghị: “Về quy hoạch KCN và CCN, nên rà soát lại, địa phương nào có điều kiện thì phát triển, còn ngược lại thì nên giảm. Đừng mở KCN, CCN tràn lan, vừa lãng phí đất đai, nhân lực - vật lực vừa triệt tiêu nhau”.
(Theo NLĐ)
BLOG rất mong nhận được bình luận của các bạn xung quanh các đề tài mà chúng ta cùng quan tâm. Xin hãy bấm vào link GỬI BÌNH LUẬN phía dưới bài, viết ý kiến của mình, rồi nhấn phím XUẤT BẢN. Sau đó, điền thông tin theo hệ thống hướng dẫn. Mọi ý kiến của các bạn đều được chúng tôi đón đợi và quan tâm.
Cám ơn các bạn!

Bình Dương: Hậu quả khi quy hoạch chồng quy hoạch


Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thanh Liêm cũng lật lại vấn đề vì sao lại dẫn đến tình trạng quy hoạch chồng lên quy hoạch như vậy.
Cụm công nghiệp (CCN) Tân Bình thuộc phường Tân Bình, TX.Dĩ An được phê duyệt quy hoạch từ năm 2001, nhưng cho đến nay cũng chỉ nghe loáng thoáng trên giấy tờ vì trên thực tế nó không tồn tại! Vì sao một CCN đã được quy hoạch tại một vùng có môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút đầu tư lại không thể triển khai? Còn doanh nghiệp (DN) được phê duyệt, giao thực hiện dự án thì lại rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nan?

Tiến thoái lưỡng nan!

Ngày 6-7-2001, UBND tỉnh Bình Dương đã có Quyết định số 2351 QĐ/UB-KTH về việc giao cho Công ty Trung Thành, nay là Công ty Cổ phần Trung Thành làm chủ đầu tư dự án CCN và Khu dân cư (KDC) Tân Bình trên địa bàn xã Tân Bình (nay là phường Tân Bình), TX.Dĩ An. Theo đó, CCN và KDC Tân Bình có tổng diện tích 55 ha, trong đó 50 ha làm đất công nghiệp và 0,5 ha dùng để tái định cư.
Bình Dương: Hậu quả khi quy hoạch chồng quy hoạch | ảnh 1
Tuy nhiên, ngay sau đó UBND tỉnh lại có các Quyết định 3955 QĐ/UB-KTTH ngày 19-10-2001, giao cho Công ty TNHH Liên Anh được đầu tư sản xuất với diện tích 12 ha và Quyết định số 4449 QĐ/UB-KTTH ngày 19-11-2001 về việc giao cho Công ty TNHH Đại Quang được xây dựng mở rộng phân xưởng tại xã Tân Bình (nay là phường Tân Bình), TX.Dĩ An với diện tích 2,8 ha.

Điều đáng nói là diện tích đất được giao tại 2 quyết định nói trên lại trùng với 55 ha diện tích đã được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch CCN và KDC Tân Bình, làm cho quy hoạch sau chồng lên quy hoạch trước. Theo ông Đặng Văn Lắm, Phó Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Trung Thành cho biết, khi nhận thấy có sự chồng chéo này, Công ty Trung Thành lúc đó đã trình báo với UBND huyện, tỉnh để xử lý.

Tại các buổi làm việc, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh đã đề xuất các phương án chia quy hoạch nhưng cả 3 bên gồm Công ty Trung Thành, Công ty Liên Anh và Công ty Đại Quang đều không chấp nhận. Sau đó, UBND tỉnh đi đến kết luận để giải quyết dứt điểm vụ việc này, Công ty Trung Thành vẫn là chủ đầu tư dự án CCN và KDC Tân Bình, đồng thời Công ty Liên Anh và Công ty Đại Quang là nhà đầu tư của Công ty Trung Thành.

Hai công ty này cũng phải thực hiện đấu nối cơ sở hạ tầng với quy hoạch chi tiết của CCN Tân Bình do Công ty Trung Thành làm chủ đầu tư; đồng thời phải thỏa thuận ranh giới, vị trí lô đất và nộp tiền cơ sở hạ tầng cho Công ty Trung Thành. “Tuy nhiên, 2 công ty Liên Anh và Đại Quang kéo dài và chưa nộp đầy đủ tiền đóng góp cơ sở hạ tầng, đồng thời tự ý bồi thường giải tỏa thêm diện tích trong quy hoạch của chủ đầu tư làm cho tình hình quản lý, thực hiện quy hoạch CCN và KDC Tân Bình vấp phải những khó khăn phức tạp...”, báo cáo của Công ty Cổ phần Trung Thành giải trình với Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương Trần Thanh Liêm tại buổi họp giải quyết vụ việc mới đây nêu rõ.

Cũng theo Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Trung Thành Đặng Văn Lắm, việc 2 Công ty Liên Anh và Đại Quang được đầu tư trong quy hoạch là xuất phát từ việc quy hoạch chồng chéo và sự phân xử của UBND tỉnh chứ Công ty Trung Thành không chủ trương thu hút đầu tư từ 2 đơn vị này. Hậu quả của việc chồng chéo quy hoạch đã gây thiệt hại và cản trở quá trình thực hiện dự án của Công ty Trung Thành, khiến Công ty Trung Thành rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan!

Và, sự đã rồi!

Trong buổi làm việc với UBND TX.Dĩ An và Công ty Cổ phần Trung Thành, chủ đầu tư hiện tại của dự án CCN và KDC Tân Bình, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thanh Liêm cũng lật lại vấn đề vì sao lại dẫn đến tình trạng quy hoạch chồng lên quy hoạch như vậy.

Theo diễn biến của sự việc thì quy hoạch CCN và KDC Tân Bình của Công ty Trung Thành được UBND tỉnh phê duyệt sớm nhất thông qua Quyết định 2351QĐ/UB-KTH ngày 6-7-2001, còn quyết định cho Công ty Liên Anh là số 3955 QĐ/UB-KTTH ngày 19-10-2001 và quyết định giao cho Công ty Đại Quang là số 4449 QĐ/UB-KTTH ngày 19-11-2001.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thanh Liêm cũng đặt vấn đề, tại sao khi UBND tỉnh phê duyệt các chủ trương nêu trên thì vai trò tham mưu của UBND TX.Dĩ An, nơi dự án được triển khai và các sở, ban, ngành chức năng ở đâu? Tất cả những  thắc mắc đó của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thanh Liêm đều chưa được giải đáp thỏa đáng.

Ngoài ra, khi phê duyệt quy hoạch CCN và KDC Tân Bình, quy chế về quản lý khu CCN của Chính phủ chưa ra đời, nên khi triển khai quy hoạch này UBND tỉnh cũng như chủ đầu tư là Công ty Trung Thành gặp nhiều khó khăn trong quá trình quản lý, thực hiện dự án.

Thêm vào đó, việc 2 Công ty Liên Anh và Đại Quang thực hiện việc sang nhượng quyền sử dụng đất (phần lớn diện tích đất của Công ty Liên Anh được sang nhượng bởi Công ty TNHH Hồng Hải) là hoàn toàn hợp pháp. Chính vì thế, khi Công ty Trung Thành được phê duyệt quy hoạch nhưng khi bắt tay vào thực hiện dự án thì mọi việc trở nên rối rắm vì tất cả đã rơi vào tình trạng... đã rồi!
(Theo Báo Bình Dương)

29 tháng 5, 2012

Sẽ thẩm định dự thảo Quy hoạch sử dụng đất của Hà Nội


Hôm qua (28/5), Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thẩm định dự thảo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 – 2015 của TP Hà Nội.
Sẽ thẩm định dự thảo Quy hoạch sử dụng đất của Hà Nội | ảnh 1
Theo dự thảo, chỉ tiêu đất phi nông nghiệp của Hà Nội đến năm 2015 là 162.783ha, chiếm 48,9% diện tích tự nhiên; Quy hoạch đến năm 2020 là 178.830ha, chiếm 53,7% diện tích tự nhiên.

Chỉ tiêu đất nông nghiệp đến năm 2015 là 165.037ha, chiếm 49,6% diện tích tự nhiên; trong đó, đất trồng lúa 102.323ha, chiếm 30,7% diện tích tự nhiên. Chỉ tiêu đất nông nghiệp quy hoạch đến năm 2020 là 152.248ha, chiếm 45,7% diện tích tự nhiên; trong đó, đất trồng lúa 92.120ha, chiếm 27,7% diện tích tự nhiên…

Theo Bộ TN&MT, dự thảo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) của TP Hà Nội đã thể hiện được các nội dung theo quy định. Sắp tới, dự thảo sẽ được trình Thường vụ Thành ủy và Hội đồng nhân dân TP thông qua trước khi trình Chính phủ xét duyệt.
(Theo KTĐT)

BLOG rất mong nhận được bình luận của các bạn xung quanh các đề tài mà chúng ta cùng quan tâm. Xin hãy bấm vào link GỬI BÌNH LUẬN phía dưới bài, viết ý kiến của mình, rồi nhấn phím XUẤT BẢN. Sau đó, điền thông tin theo hệ thống hướng dẫn. Mọi ý kiến của các bạn đều được chúng tôi đón đợi và quan tâm.
Cám ơn các bạn!

21 tháng 5, 2012

Nhận biết sự động và tĩnh trong quy hoạch


Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đô thị lấy mật độ lưu thông trên các tuyến đường của một đô thị làm một trong những tiêu chí để phân biệt đô thị “động” hay đô thị “tĩnh”.
Một thành phố phát triển bền vững phải chú ý đến chất lượng sống của người dân, phải là nơi hội tụ đủ các yếu tố mà cư dân có thể sống, nghỉ ngơi và làm việc.
Nhận biết sự động và tĩnh trong quy hoạch | ảnh 1
Trong đó khu vực động là nơi của yếu tố làm việc, với nhịp sống sôi động, sự tấp nập trên các con phố, những cửa hàng buôn bán và ở đây giá trị của hai chữ “mặt tiền” được thể hiện rõ nhất. Còn khu vực tĩnh là nơi chủ yếu để nghỉ ngơi và sống với những hàng cây phủ bóng mát, những con đường yên tĩnh, nhịp sống nhẹ nhàng hơn và khái niệm mặt tiền ở đây không còn thể hiện đầy đủ giá trị so với ở thành phố động…

Như vậy ngay trong bản thân một đô thị bao giờ cũng cùng tồn tại 2 khái niệm động – tĩnh và do đó trong quy hoạch tổng thể thành phố, việc quy hoạch phân khu chức năng làm việc và để ở phải có sự tách biệt và phải khác nhau về cấu trúc hạ tầng. Tại khu vực thành phố “động”, đường sá phải được làm to hơn nhằm đáp ứng mật độ lưu thông cao hơn so với những khu “tĩnh”. Không ít người dân thành phố đã lấy khu dân cư Bàu Cát quận Tân Bình TPHCM làm bài học nhãn tiền về tầm nhìn cũng như thiếu rõ ràng về phân khu chức năng trong quy hoạch. Khu dân cư Bàu Cát được xem là một trong những khu dân cư mới, điển hình vào những năm đầu thập niên 90 thế kỷ XX.

Tuy nhiên, vì nhiều lý do trong đó có lý do là những người có chức trách trong quy hoạch khi đó chưa hình dung hết tốc độ cũng như quy mô phát triển ở khu vực này, xem đây sẽ chỉ là khu vực tĩnh nên những con đường được làm chỉ đủ đáp ứng cho mật độ dân số vừa phải. Chính vì thế sau khi nơi đây trở thành khu dân cư sầm uất thì những con đường trong khu dân cư Bàu Cát bỗng trở thành những “con đường làng” đã tạo ra nghịch lý, hạ tầng khu vực tĩnh phục vụ các hoạt động khu vực động, nên cảm giác chật chội, đông đúc thiếu trật tự là điều không tránh khỏi.

Ngay từ trước ngày giải phóng Sài Gòn thống nhất đất nước, câu nói “ăn quận 5 nằm quận 3, làm quận 1” cũng đã chia thành phố thành những khu tĩnh và động. Đến nay mặc dù quận 3 đã trở thành một trong những quận trung tâm về kinh tế, dịch vụ… nghĩa là đã chuyển từ khái niệm tĩnh sang động nhưng phảng phất đâu đó trên những con đường Tú Xương, Trần Quốc Thảo… vẫn còn nét của sự tĩnh lặng.

Tại Tp.HCM hiện nay, mặc dù có rất nhiều khu dân cứ mới được mọc lên, tuy nhiên hai khái niệm “động” và “tĩnh” vẫn chưa được các nhà quy hoạch quan tâm đúng mức. Vì thế hiện nay khó ai có thể chỉ ra trong thành phố đâu là nơi để ở, đâu là nơi làm việc, đâu là nơi vui chơi giải trí. Ngay cả những con hẻm khi xưa thường được xem là nơi để ở thì nay cũng đã trở thành nơi kinh doanh, buôn bán... Không có sự phân biệt khái niệm động và tĩnh trong quy hoạch thành phố cũng đồng nghĩa với việc ngay cạnh một cơ quan làm việc, hay trong một khu vực làm việc vẫn có thể có chỗ để ở hoặc vui chơi giải trí và ngược lại…

Phân biệt rõ khu vực “tĩnh” và “động” trong một thành phố là điều mà bất cứ đô thị phát triển nào cũng phải quan tâm thực hiện, vì chỉ có như thế mới bảo đảm sức khỏe để tái sản xuất sức lao động cho cư dân đô thị.
(Theo SGGP)

9 tháng 5, 2012

Tp.HCM sẽ xây dựng, cải tạo lại trung tâm hành chính


Ngày 7/5, Sở Quy hoạch kiến trúc Tp.HCM cho biết UBND TP đã đồng ý cho xây dựng - cải tạo trung tâm hành chính của TP để bố trí nơi làm việc của UBND TP và một số sở ngành trực thuộc.
Tp.HCM sẽ xây dựng, cải tạo lại trung tâm hành chính
Vị trí xây dựng - cải tạo trung tâm hành chính là khu đất rộng 18.000m2 giới hạn bởi các đường Lê Thánh Tôn - Pasteur - Lý Tự Trọng - Đồng Khởi thuộc phường Bến Nghé, quận 1. Trong đó sẽ giữ lại trụ sở UBND TP hiện tại (tòa nhà 86 Lê Thánh Tôn) và một vài công trình có giá trị kiến trúc khác.

UBND TP sẽ tổ chức thi tuyển phương án xây dựng - cải tạo trung tâm hành chính để chọn phương án tốt nhất, dự kiến việc thi tuyển sẽ diễn ra trong quý 3/2012.
(Theo TTO)

Tp.HCM: Sẽ quy hoạch lại khu vực dọc bờ sông Sài Gòn


UBND Tp.HCM vừa giao sở Quy hoạch – kiến trúc, viện Nghiên cứu phát triển thành phố và UBND huyện Củ Chi phối hợp với tỉnh Bình Dương nghiên cứu lập quy hoạch khu vực đất ven sông Sài Gòn.
Tp.HCM: Sẽ quy hoạch lại khu vực dọc bờ sông Sài Gòn
Theo đó, các phân khu nông nghiệp làng nghề công nghệ cao sẽ được quy hoạch kết hợp với du lịch sinh thái và dân cư nhà vườn, nghỉ dưỡng; kết nối với dự án Thảo cầm viên Sài Gòn Safari; kết nối các ao hồ nuôi và vườn cây trồng của từng lô thửa thành một hệ thống liên thông nối liền của làng nghề, trang trại.

UBND Tp.HCM yêu cầu sở Tài chính cần ưu tiên ứng vốn để chủ đầu tư thực hiện mười quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/5000 khu nông nghiệp làng nghề kết hợp du lịch sinh thái và dân cư nhà vườn tại tám xã ven sông Sài Gòn trên địa bàn huyện Củ Chi.

Việc quy hoạch này cũng sẽ được mở rộng đến các quận 12, Gò Vấp, Bình Thạnh, Thủ Đức và huyện Hóc Môn nhằm phát huy hết tiềm năng, tạo cảnh quan khu vực ven sông Sài Gòn.
(Theo SGTT)

Đà Nẵng: Điều chỉnh quy hoạch Khu biệt thự nghỉ dưỡng Sunrise


Vừa qua, UBND Tp.Đà Nẵng có quyết định điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu biệt thự nghỉ dưỡng du lịch cao cấp Sunrise do Công ty Cổ phần Địa Cầu làm chủ đầu tư.
Đà Nẵng: Điều chỉnh quy hoạch Khu biệt thự nghỉ dưỡng Sunrise
Khu biệt thự nghỉ dưỡng du lịch cao cấp Sunrise tọa lạc bên đường Trường Sa, phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, Tp.Đà Nẵng với tổng diện tích quy hoạch được nâng lên 156.135m2 gồm các phân khu chức năng như: Khu biệt thự, khu căn hộ dịch vụ, căn hộ cao cấp, nhà câu lạc bộ, sân tennis,…

Sau khi điều chỉnh, diện tích xây dựng khu biệt thự từ 54.314m2 giảm xuống còn 47.027m2 trong khi đó, diện tích xây dựng khu căn hộ cao cấp được tăng lên 12.973m2, diện tích khu nhà câu lạc bộ bãi biển tăng lên 2.545m2 và diện tích cây xanh, thảm cỏ cũng được điều chỉnh tăng lên 36.272m2.
(Theo Báo Công an Đà Nẵng)

4 tháng 5, 2012

Các dự án bất động sản phải dành đất xây nhà cho thuê



picture
Tỷ lệ số hộ dân thuê nhà để ở tại khu vực đô thị bằng 14% tổng số hộ dân có sở hữu nhà ở.
E-mailBản để inCỡ chữChia sẻ:facebooktwittergooglerss














Bộ Xây dựng vừa có tờ trình Chính phủ đề nghị ban hành nghị định về phát triển và quản lý nhà ở cho thuê tại khu vực đô thị.

Theo Bộ Xây dựng, trong Luật Nhà ở có quy định: Nhà nước có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở của người thu nhập thấp và các tầng lớp dân cư trong xã hội.

Tuy nhiên, hiện nay Nhà nước không có chính sách riêng về phát triển nhà ở cho thuê mà điều chỉnh chung cả vấn đề phát triển nhà ở cho thuê và phát triển nhà ở để bán, cho thuê mua; các doanh nghiệp chưa chú trọng đến việc phát triển nhà ở để cho thuê, trong khi nhu cầu về loại nhà ở này là rất lớn, nhiều người có khó khăn về nhà ở, đặc biệt là tại khu vực đô thị không có khả năng về tài chính để mua nhà ở và có nhu cầu thuê nhà ở nhưng lại không có quỹ nhà ở để cho thuê.

Qua thống kê về tình hình phát triển nhà ở trong 10 năm (tính đến thời điểm tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009) cho thấy, tỷ lệ số hộ dân thuê nhà để ở tại khu vực đô thị bằng 14% tổng số hộ dân có sở hữu nhà ở.

Trên thực tế vẫn còn nhiều hộ gia đình, cá nhân, đặc biệt là những hộ gia đình trẻ; học sinh, sinh viên; người già neo đơn không nơi nương tựa; người nhiễm chất độc màu da cam; công nhân lao động và người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị đang gặp khó khăn về nhà ở.

Theo Bộ Xây dựng, quỹ nhà ở cho thuê hiện nay chỉ chiếm tỷ lệ thấp so với số hộ dân có sở hữu nhà ở (tính chung cả nước chỉ chiếm hơn 6,3 % tổng số hộ dân có sở hữu nhà ở, riêng Hà Nội chỉ chiếm 14%, Tp.HCM chiếm 19%, các đô thị loại 1 chiếm 4-6% và các đô thị còn lại chỉ chiếm khoảng 4%).

Dẫn thống kê của Liên Hợp quốc (UN-Habitat), Bộ Xây dựng cho hay, hiện tỷ lệ người thuê nhà để ở tại các nước phát triển cao hơn tỷ lệ người thuê nhà tại các nước đang phát triển. Tại Mỹ, tỷ lệ người thuê nhà là 32%, trong đó thuê nhà ở xã hội là 3%, tại Đức là 57% và 6%, trung bình người thuê nhà ở tại 27 nước EU là 26,5%, trong đó thuê nhà ở xã hội là 13,5%.

Tại Úc tỷ lệ người thuê nhà ở là 27%, trong đó thuê nhà ở xã hội là 6%, tỷ lệ tương tự tại Pháp là 38% và 16%, tại một số thành phố của các nước phát triển thì tỷ lệ thuê nhà ở còn cao hơn như: NewYork là 55%, London là 41%, tại Berlin và Armtesdam là trên 70%.

Như vậy, qua thực tiễn triển khai thực hiện các chính sách pháp luật về nhà ở và qua nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy, việc phát triển nhà ở cho thuê, từng bước thay thế quan niệm có nhà ở phải thông qua việc sở hữu riêng của cá nhân, hộ gia đình là xu hướng phát triển tất yếu của các quốc gia trên thế giới.

Bộ đề xuất việc phát triển nhà ở cho thuê được thực hiện theo 2 hình thức: hoặc nhà nước trực tiếp đầu tư vốn từ ngân sách hoặc các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở cho thuê theo cơ chế thị trường, không có sự ưu đãi của nhà nước.

Để có quỹ đất phát triển nhà ở cho thuê, dự thảo quy định yêu cầu UBND các tỉnh khi lập quy hoạch xây dựng các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới, khu công nghiệp phải dành quỹ đất để xây dựng nhà ở cho thuê.

Cụ thể, đối với các dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới có quy mô sử dụng đất từ 10 ha trở lên thì ngoài yêu cầu phải dành 20% diện tích đất để xây dựng nhà ở xã hội theo pháp luật về nhà ở.

Dự thảo còn quy định bắt buộc chủ đầu tư phải dành thêm một diện tích đất nhất định để xây dựng nhà ở cho thuê theo hướng: tại đô thị đặc biệt và đô thị loại 1 phải dành thêm tối thiểu 15% tổng diện tích đất xây dựng nhà ở của dự án để xây dựng nhà ở cho thuê; tại đô thị loại 2 phải dành thêm tối thiểu 10% tổng diện tích đất xây dựng nhà ở của dự án để xây dựng nhà ở cho thuê.

Đối với các dự án có quy mô dưới 10 ha thì tuỳ vào từng trường hợp, UBND cấp tỉnh quyết định yêu cầu chủ đầu tư phải dành một phần diện tích đất xây dựng nhà ở hoặc diện tích sàn nhà ở của dự án với mức không quá 10% để cho thuê;

Với các địa phương có khu công nghiệp thì cho phép UBND cấp tỉnh được điều chỉnh quy hoạch để sử dụng một phần diện tích đất đã giải phóng mặt bằng trong khu công nghiệp để xây dựng nhà ở cho công nhân thuê;

Dự thảo cũng quy định vốn đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để cho thuê bao gồm: Nhà nước cấp vốn trực tiếp từ ngân sách; sử dụng 30% tiền sử dụng đất thu được của các địa phương; vốn trái phiếu, vốn vay ODA và vốn vay khác từ nước ngoài; vốn vay của các tổ chức tín dụng, vay ưu đãi từ Ngân hàng phát triển Việt Nam, các quỹ đầu tư, quỹ phát triển nhà ở, quỹ tiết kiệm nhà ở.

Đối với vốn ngân sách, tại các địa phương, UBND cấp tỉnh trình hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định vốn đầu tư xây dựng nhà ở cho thuê; tại Trung ương thì Bộ Xây dựng trình Thủ tướng quyết định.

Vốn xây dựng nhà ở thương mại cho thuê theo cơ chế thị trường thì do các doanh nghiệp xây dựng nhà ở tự huy động theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề diện tích nhà cho thuê, dự thảo quy định diện tích căn hộ cho thuê gồm 2 loại: đối với nhà ở xã hội do nhà nước đầu tư vốn từ ngân sách thì diện tích sàn tối thiểu là 30m2/căn và tối đa là 60m2/căn; đối với nhà ở xã hội do doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhưng được hưởng các ưu đãi của nhà nước thì diện tích sàn tối thiểu là 25m2/căn và tối đa là không quá 70m2/căn, trong đó loại căn hộ có diện tích nhỏ hơn 30m2/căn có số lượng tối đa không vượt quá 15% tổng số căn hộ trong một tòa nhà.

Đối với nhà ở thương mại cho thuê theo cơ chế thị trường thì diện tích sàn tối thiểu là 25m2/căn và loại căn hộ có diện tích nhỏ hơn 30m2/căn có số lượng tối đa không vượt quá 15% tổng số căn hộ trong một tòa nhà.
    
Về quy định về đối tượng, điều kiện thuê nhà ở, dự thảo nêu rõ: đối với nhà ở xã hội cho thuê, do hạn chế về số lượng nhà ở được đầu tư xây dựng, do có sự ưu đãi của Nhà nước, nên chỉ có một số đối tượng nhất định được thuê nhà ở như: người có công với cách mạng; cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang nhân dân, trí thức, văn nghệ sỹ; người tàn tật, người neo đơn không nơi nương tựa; công nhân lao động…

Đối với nhà ở do các doanh nghiệp đầu tư xây dựng để cho thuê theo cơ chế thị trường thì cho cho các đối tượng là hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu thuê và có khả năng trả tiền thuê nhà ở.
Theo Vneconomy